Hải Thượng Lãn Ông tên húy là Lê Hữu Trác tên thường là Lê Hữu Chẩn, là một đại y tôn của nước ta. Sinh ngày 12/11/1724 năm Giáp Thìn về cuối đời Hậu Lê, ở thôn Văn Xá, làng Lưu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương, (nay là thôn Thanh Xá, xã Hoàng Hữu Nam, huyện Yên Mỹ, Hải Hưng)
Chi tiết
Hoa Đà, tự Nguyên Hóa, lại có tên Phu, sống vào thời Tam Quốc. Ông là người nước Bái (nay là tỉnh An Huy, Trung Quốc). Ông thông y thuật toàn diện, giỏi ngoại khoa, thủ thuật (mổ xẻ), được người sau tôn xưng là ‘Ngoại Khoa Thánh Thủ, ‘Ngoại khoa tỵ tổ).
Chi tiết
Tên là Cơ, người đời Đông Hán, quận Nam Dương (nay là Hà Nam, Nam Dương). Ông là tác giả quyển ‘Thương Hàn Tạp Bệnh Luận’, một quyển sách y học rất có giá trị trong ‘Y học Bảo Khố’ của Trung quốc. Được coi là một Thánh Y của Trung Y.
Chi tiết
Tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, hiệu Huệ Tĩnh, sau này khi đi tu, lấy pháp hiệu là Tuệ Tĩnh. Quê làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thai, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay là xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Chi tiết
Lý Thời Trân, tự Đông Bích, về già tự hiệu là Tần Hồ sơn nhân, người đời Minh, Kỳ Châu (nay là Hồ Bắc, Kỳ Xuân, Kỳ Châu).  Ông là nhà y dược học vĩ đại của Trung Quốc xưa và của cả thế giới, có viết quyển sách y dược học nổi danh ‘Bản Thảo Cương Mục’
Chi tiết
1- Thành phần:  Liên kiều 8 - 12g Cát cánh 6 - 12g Trúc diệp 6 – 8g Kinh giới tuệ 4 – 6g Đạm đậu xị 8 – 12g Ngưu bàng tử 8 – 12g Kim ngân hoa 8 – 12g Bạc hà 8 – 12g Cam thảo 2 – 4g
Chi tiết
Cách dùng: Thạch cao sắc trước, thuốc sắc chia 3 lần, uống trong ngày, ra mồ hôi nhiều ngưng dùng thuốc. 3- Tác dụng: Phát hãn, giải biểu, thanh nhiệt, trừ phiền, trị các chứng ngoại cảm phong hàn biểu thực kiêm lý nhiệt chứng thường thấy sốt sợ lạnh đầu nặng, mình đau không ra mồ hôi khó chịu, rêu lưỡi trắng hoặc hơi vàng, mạch phù khẩn, có lực.
Chi tiết
1- Thành phần - Hương phụ                        :                             160g - Trần bì                              :                               80g - Tô diệp                            :                            160g - Chích thảo                        :                              40g 2- Cách dùng: Tán bột mịn làm thuốc tán mỗi lần sắc 12g uống, có thể dùng làm thuốc thang với liều lượng giảm bớt. 3- Tác dụng: Phát hãn, giải biểu lý khí hòa trung, chữa chứng ngoại cảm phong hàn, kiêm khí trệ có các triệu chứng người nóng sợ lạnh đau đầu, ngực, bụng đầy tức, chán ăn không ra mồ hôi, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch “phù”
Chi tiết
Kinh giới 90g Phòng phong 90g Sài hồ 90g Tiền hồ 90g Chỉ xác 90g Cát cánh 90g Bạch linh 90g Kim ngân 90g Độc hoạt 90g Xuyên khung 60g Khương hoạt 45g Cam thảo 45g Bạc hà 40g
Chi tiết
Sởi là bệnh truyền nhiễm đường hô hấp cấp tính, rất dễ lây, thường gặp ở trẻ em. Bệnh do virut thuộc nhóm RNA Paramyxovirus gây nên. Triệu chứng bệnh thường biểu hiện viêm long ở kết mạc mắt, niêm mạc đường hô hấp, đường tiêu hóa và phát ban đặc hiệu ngoài da. Bệnh lây rất nhanh, 90% số trẻ tiếp xúc với trẻ mắc sởi sẽ bị lây bệnh. Bệnh hay phát vào mùa đông – xuân và dễ phát triển thành dịch. Đông y gọi chứng này là ma chẩn, dịch tà phạm vào hai kinh phế, vị. Xin giới thiệu một số bài thuốc thường dùng trong từng giai đoạn tiến triển của bệnh sởi.
Chi tiết
Thư viện ảnh

các bài thuốc chữa nám da (21/11/2011) 

Theo y học cổ truyền, những người có da mặt sạm, nám đen thường mệt mỏi, uể oải, đầu nặng, buồn ngủ, lưng đau. Nám và sạm da thường xuất hiện khi người phụ nữ bước vào độ tuổi 30. Tuy không ảnh hưởng đến sức khoẻ, nhưng sạm da ảnh hưởng đến thẩm mỹ và tâm lý của chị em. Theo y học cổ truyền, những người có da mặt sạm, nám đen thường mệt mỏi, uể oải, đầu nặng, buồn ngủ, lưng đau. Mạch trầm, sác. Nguyên nhân do thận âm hư rồi dẫn đến thận dương cũng hư. Thận thủy bị tướng hỏa phản khắc, ức chế, dần dần gây nám da. Dưới đây là một số bài thuốc uống có thể giúp cải thiện, ngăn ngừa nám và sạm da.


Bài 1: Thục địa (chưng rượu) 20g, hoài sơn (sao vàng) 16g, táo nhục (bỏ hạt) 12g, bạch phục linh 8g, mẫu đơn bì (sao thơm) 12g, trạch tả (ngâm nước muối 2 giờ, sao khô) 8g, thiên hoa phấn 12g, hạ khô thảo 8g, gừng tươi 8g, câu kỷ tử 12g, cúc hoa 8g. Cho các vị thuốc vào nồi, đổ 600ml nước sắc còn 150ml. Sắc 2 lần, hòa chung 2 nước, uống 2 lần trong ngày sau bữa ăn 2 giờ. Uống 10 - 15 thang, nghỉ 7 ngày lại uống tiếp đợt 2. Phụ nữ đang có kinh nguyệt và thai nghén không được uống. Sau khi sinh 2 tháng mới uống. 

 

Bài 2: “Bát tiên trường thọ”: thục địa 16g, hoài sơn 8g, táo nhục 8g, đơn bì 6g, trạch tả 6g, phục linh 6g, mạch môn 8g, ngũ vị tử 8g, ngưu tất 10g, xa tiền tử 8g, ba kích 8g, phá cố chỉ 8g. Sắc uống như bài trên.

Bài 3: A giao 12g, xuyên khung (sao rượu) 8g, bạch thược (sao rượu) 12g, bạch phục linh 12g, đương quy 12g, quảng bì (sao thơm) 8g, sinh địa 12g, huỳnh kỳ 8g, thăng ma 8g, chích thảo 6g, bắc sài hồ (tẩm rượu sao thơm) 8g, gừng sống 8g. Sắc uống như bài trên. Bài này chỉ dùng cho phụ nữ đã có con mà da mặt đen sạm.

Bài 4: Thục địa 12g, phục linh 10g, đơn bì 8g, trạch tả 6g, sơn thù 6g, hoài sơn 8g, mạch môn 6g, tang bạch bì 8g. Sắc uống như bài trên.

Bài 5: Í́ch mẫu thảo 30g, tang ký sinh 30g, trứng gà 4 quả, đường phèn vừa đủ. Trứng luộc, bóc vỏ cho vào nồi nấu với ích mẫu, tang ký sinh. Đổ nước vừa đủ, đun nhỏ lửa trong 30 phút rồi cho đường phèn vào quấy tan; vớt bỏ ích mẫu, tang ký sinh. Ăn trứng uống nước ngày 1 thang. Tác dụng: bổ gan, dưỡng huyết, hoạt huyết, trị mặt sạm đen, trứng cá.

Bài 6: Thiên hoa phấn 16g giã nhỏ, cho nước sôi vào hầm một lúc rồi lọc kỹ, uống liền 4 - 5 ngày.

Bài 7: Rau má 40g, câu kỷ tử 40g, quế tâm 4g. Tất cả phơi khô, tán bột uống liên tục trong 1 - 2 tháng. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 thìa canh. 

 

Theo SK&ĐS